Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Những người lính của tôi!

<

(Bài đăng lại nhân ngày 22 -12)


Gia tài đồ sộ nhất của mẹ, có lẽ là cái tủ sách. Khi có thể đọc được, là tôi đã ngày ngày chúi vào đống sách đó. Tôi thuộc đến từng trang truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài; “Đội thiếu niên du kích Đình Bảng” của Xuân Sách; “Đội thiếu niên tình báo Bát Sắt” của Phạm Thắng và rất nhiều tác phẩm truyện thiếu nhi. Lớn hơn một chút, tôi đọc “Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975” tái hiện gần như trọn vẹn hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Khi có thể đọc những cuốn tiểu thuyết dài hơi hơn, tôi bắt đầu ngó nghiêng và miệt mài khám phá “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu; tôi ngậm ngùi một chút khi đọc “Thời xa vắng” của Lê Lựu.


Những người lính trong nhận thức của tôi, thật đẹp. Tôi thường liên tưởng đến họ, khi đọc thơ Tố Hữu.
Chúng muốn đốt ta thành tro bụi

Ta hóa vàng nhân phẩm, lương tâm

Chúng muốn ta bán mình ô nhục 
Ta làm sen thơm ngát giữa đầm. 


        Nhưng, tất cả những cảm xúc của tôi về họ vẫn ở sự thăng hoa kỳ diệu mà chưa có điểm dừng, để nhận về một nhận thức cụ thể nào đó. Với tôi, họ là “anh giải phóng quân” tuyệt đẹp, bước từ trong trang sách ra ngoài đời. Thi thoảng bắt gặp một người lính trên phố, tôi nhớ đến “Những người lính đi qua thành phố” của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo với những câu thơ đẹp cả tứ thơ lẫn ngôn từ mà có lần tôi đã nghe thầy tôi bình. 
        Cho đến khi tôi gặp anh, rồi bước chân về nhà anh, làm vợ một người lính, làm con dâu một đại tá quân đội.
           Trong những lúc hàn huyên khi đại gia đình sum họp, tôi thích gợi lại ký ức của bố về cái thời đã qua oanh liệt, với những chiến dịch phơi phới niềm tin yêu hi vọng vào ngày hòa bình, trong khi với họ, cái chết gần hơn sự sống. Bố từng tham gia vào nhiều trận đánh. Và sau 30/4/75, ông cùng với đồng đội tiến về Sài Gòn trong tiếng hò reo mừng chiến thắng, lẫn trong ánh mắt van lơn run sợ của những người “phía bên kia”. Tôi thích nghe ông kể về những ngày tiếp quản thành phố, khi những chàng trai miền Bắc còn vô cùng lạ lẫm với những tiện nghi hiện đại, khi họ thậm chí không biết cái bồn cầu trong nhà vệ sinh sao lại sạch sẽ và trắng bóng như một cái thau sứ; khi họ ngạc nhiên không hiểu vì sao và làm cách nào mà cái vòi hoa sen trong nhà tắm lại có thể phun nước lên người kì diệu đến thế....


        Trong cái kho kiến thức sống về chiến tranh ấy, tôi đọc được niềm kiêu hãnh của thời đại pha một chút ngậm ngùi về nỗi đau còn và mất; tôi cảm nhận được một cách thật cụ thể về “đường ra trận mùa này đẹp lắm” - là cái đẹp của những tâm hồn, chứ không phải như tưởng tượng của tôi trước đây về những nẻo đường Trường Sơn quanh co uốn lượn như tranh. Và tôi còn biết được cảm giác thực sự là gì khi những người lính hô to hai tiếng XUNG PHONG rồi chìm trong lửa đạn chiến trường; biết rằng giây phút ấy họ còn gọi MẸ ƠI rất to nữa; biết rằng có những đơn vị hoàn toàn bị xóa sổ sau một trận đánh quyết liệt, hoặc chỉ còn lại một hai người, gạt nước mắt để tiễn đưa đồng đội giữa bốn bề hoang tàn vì thân xác người đi cũng đã tan vào trong đất….
        Góc khuyết của chiến tranh, cái ít được kể trong các tác phẩm mà tôi đã đọc, thường hiện về rất rõ trong ánh mắt thoáng xa xăm của bố. Nhưng tôi biết, nếu như một lần nữa ra trận, thế hệ của ông vẫn sẽ nghĩ và làm như thế, như đã từng như thế…. 

       Tôi lấy chồng khi còn rất trẻ. Cũng không mấy ý thức thế nào là vợ lính. Đầu tiên, vì anh quá say mê và chân thành, vì anh biết viết những lá thư dài và ép khô hoa muống biển từ Nha Trang gửi về cho tôi, khiến cho những đứa bạn cùng phòng tập thể trầm trồ khen ngợi. Tiếp theo, vì cảm động. Bởi anh giả vờ ốm rồi nhập viện và nhờ bằng được một người chú chạy cho cái giấy nghỉ ốm hai tuần, anh vét hết tiền cộng với bán cả mấy bộ quần áo cùng với mấy thứ đồ đạc riêng, để mua vé máy bay bay ra Bắc, mặc kệ việc có thể bị kỷ luật rất nặng, chỉ để hỏi tôi có đồng ý làm vợ anh không? 
Lấy nhau rồi, tôi thấm thía hơn rất nhiều những câu thơ của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: 
“Nếu em là vợ lính dẫu thời bình 
Hãy xem bài cho con sau mỗi lần tan học 
Con khó bảo đừng một mình ngồi khóc 
Đừng đợi anh xách nước thổi cơm chiều.” 


Khi Trung Quốc gây sóng gió trên biển đông, lòng tôi như có lửa đốt. Vì anh vẫn đang ở nơi ấy. Vì mỗi lần anh gọi về, tôi vẫn nghe tiếng sóng biển gầm gào bên tai, có lần tôi nghe thấy cả tiếng súng, hay là ảo giác của tôi như thế. Tôi nghĩ đến việc nói với anh rằng anh hãy xin về đất liền đi – vì anh đi cũng quá đủ thời gian rồi. Nhưng mỗi lần nói chuyện với anh qua điện thoại, tôi đều nghe thấy tiếng đàn ghi ta của đồng đội anh. Có hôm, tôi còn nghe thấy tiếng hô: Một Hai Ba Bốn Năm trong một bài thể dục nào đó, tiếng con chó đâu đó sủa vang, tiếng gõ bàn phím của ai đó bên cạnh anh, tiếng của sự sống vẫn lan tỏa ngoài đảo xa….

Cho nên tôi giữ lại trong lòng cái điều muốn nói. Tôi biết, với anh, Biển là một phần của cuộc sống. Cuốn sổ tay của anh có dòng chữ nhỏ “Tôi yêu biển và tôi yêu em”. Có lần tôi hỏi đùa: biển và em, anh yêu ai hơn? Anh cười và búng tay vào má tôi, không trả lời. Còn tôi biết: dĩ nhiên anh sẽ yêu tôi hơn yêu biển. Nhưng nếu thiếu biển, có lẽ cuộc sống của anh sẽ không trọn vẹn. Tôi học cách yêu Biển cùng anh, để hiểu tận cùng cái cảm giác chinh phục những con sóng dữ. Cho dù phải “Ngắm sao trời hãy tin đấy là anh”, tôi vẫn nguyện cùng anh đi hết cuộc đời còn lại. 

Mỗi lần về nhà, tôi đều lên gác hai, nơi có căn phòng mẹ tôi dành trọn vẹn cho sách. Tôi thích ngắm những quyển sách cũ, đã được mẹ tôi đóng bọc cẩn thận. Những quyển sách cho tôi biết thế nào là người lính. 
Tôi cám ơn bố và anh, đã cho tôi hiểu rõ hơn về LÍNH. 
Kính chúc bố và thế hệ của bố, những người lính đi qua chiến tranh bằng một trái tim nóng, luôn mạnh khỏe. 
Chúc anh, và thế hệ của anh, những người lính thời bình nhưng vẫn mang trong mình một trái tim nóng, luôn “yêu cuộc đời người lính và yêu em”!


Lên đầu trang
Vào giữa trang
Xuống cuối trang